Việc thành lập Ban bầu cử được thành lập như thế nào? Và có những nhiệm vụ và quyền hạn gì?

Căn cứ theo Điều 24 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025 quy định về Ban bầu cử được thành lập như sau:

Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội một Ban bầu cử đại biểu Quốc hội có từ 09 đến 17 thành viên gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.

 

Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình một Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Thành phần Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thêm đại diện cử tri ở địa phương.

Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ 11 đến 15 thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ 09 đến 15 thành viên. Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy viên.

Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có chung những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

(1) Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử;

(2) Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử;

(3) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu
cử ở các phòng bỏ phiếu;

(4) Nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là ngày  02/3/2026 (13 ngày trước ngày bầu cử);

(5) Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của các Tổ bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;

(6) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử của các Tổ bầu cử và khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các Tổ bầu cử chuyển đến; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốchội; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

(7) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo hướng dẫn, yêu cầu của
Hội đồng Bầu cử quốc gia hoặc theo yêu cầu của Ủy ban bầu cử cùng cấp;

(8) Chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh; chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ủy ban bầu cử cùng cấp;

(9) Tổ chức thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).

Sau khi Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh có ý kiến thống nhất về việc thành lập các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trên địa bàn tỉnh An Giang và thành lập Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ngày 31/12/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành 07 quyết định thành lập 07 Ban bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và 27 quyết định thành lập 27 Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XI nhiệm kỳ 2026-2031. Ủy ban nhân dân 102 xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh An Giang tiến hành thành lập các Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu theo đúng quy định.

 

Trần Ngọc Thạch - Phòng XDCQ,CTTN&BĐG